Xin chào ! Trường chúng tôi đã có mặt hơn 10 năm trên thị trường. TẬN TÂM - UY TÍN
Menu
Close
Loading...
Tìm kiếm

Giáo dục sớm và giáo dục sớm trong chương trình giáo dục mầm non sau năm 2020 - Ths. Bùi Thị Kim Tuyến

1. Quan niệm về giáo dục sớm (GDS)

  1. Giáo dục sớm là quá trình giáo dục được tiến hành trong giai đoạn tốt nhất - "giai đoạn vàng, cửa sổ của cơ hội". Tất cả trẻ nhỏ đều đang học trước khi chúng được sinh ra. Bên trong bộ não của trẻ sẵn có một nền tảng đã được xây dựng để phát triển các mặt thể chất, tình cảm và xã hội, nhận thức và ngôn ngữ. Chăm sóc tốt cho người mẹ khi mang thai và trẻ nhỏ là rất cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển của não bộ.
  2. Giáo dục sớm là bước đột phá của khoa học giáo dục. GDS tác động, dẫn dắt, bồi dưỡng và phát triển tiềm năng thể lực, trí tuệ, hình thành tính cách và phẩm chất tốt đẹp cho trẻ trong thời kỳ 0 tuổi (thai nhi) đến sáu tuổi. Những gì người lớn làm cho trẻ trong giai đoạn này đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng nền tảng cho việc học tập và phát triển vượt trội của trẻ sau này. Sứ mệnh của giáo dục sớm là những người chăm sóc trẻ biết phải làm gì để kích hoạt tối đa tiềm năng não bộ của trẻ trong giai đoạn phát triển nhanh nhất này tạo ra những công dân có thể lực tốt, trí tuệ vượt trội, có tính cách, phẩm chất đạo đức và các kỹ năng sống phù hợp góp phần nâng cao tiềm lực con người Việt Nam. 
  3.  
  4. 2. Cơ sở khoa học của giáo dục sớm

 2.1 Những phát hiện mới nhất về sự phát triển não bộ ở trẻ nhỏ

Nghiên cứu giáo dục sớm chỉ ra rằng: Chúng ta đang lãng phí một nguồn tài nguyên não bộ vô cùng to lớn bởi mới chỉ khai thác được từ 3 đến 10% khả năng kỳ diệu của não bộ. Tiềm năng của não bộ sẽ theo quy luật giảm dần, nghĩa là giáo dục càng muộn thì tiềm năng có được của con người được phát huy càng ít.Nếu trẻ được giáo dục từ sớm trong thời kỳ vàng từ 0 (thai nhi) đến 6 tuổi, đặc biệt từ 0 đến 3 tuổi thì sự phát triển về não bộ sẽ có khả năng được kích hoạt tối đa do được phát triển đồng thời cả hai bán cầu não trái và não phải. Thiếu sự kích thích hoặc kích thích tiêu cực có thể làm cho sự tăng trưởng và phát triển không thể xảy ra được hoặc rất khó khăn.

2.2 Các nghiên cứu về não và giáo dục não phải

Trước đây người ta cho rằng não phải và não trái hoạt động theo cùng một nguyên lí giống nhau. Thực tế lại không phải như vậy, những khả năng chưa được khai phá của con người đều nằm ở não phải. Ngay trong bụng mẹ, não phải của con người đã được hình thành trước, sau đó não trái mới hình thành. Trong ba năm đầu đời, não trái chưa bắt đầu hoạt động tốt và não phải đóng vai trò là não chủ đạo. Từ ba đến sáu tuổi, vị trí chủ đạo của não phải dần chuyển sang não trái. Từ 6 đến 8 tuổi là thời kỳ phát triển của não trái. Não trái bắt đầu đóng vai trò chủ đạo và nó sẽ khống chế sự hoạt động của não phải. Đó là lí do tại sao cần tận dụng kích hoạt não phải trong giai đoạn trước 3 tuổi khi não phải vẫn đóng vai trò chủ đạo. Ngày nay các nhà khoa học đã khẳng định 3 năm đầu đời là giai đoạn rất quan trọng của sự phát triển não. Trong đó:

  • Từ 0-2 tuổi là thời kỳ phát triển của não phải. Đây là giai đoạn thần đồng.
  • Từ 3-4 tuổi là giai đoạn chuyển tiếp sang thời kỳ của não trái.
  • Từ 6-8 tuổi là thời kỳ của não trái.
  1. 2.3  Học thuyết Trí thông minh đa diện - MI

Năm 1983, trong công trình Frames of Mind: The Theory of Multiple Intelligences (tạm dịch: Cơ cấu trí não: Thuyết Trí thông minh đa diện), nhà tâm lý học Howard Gardner của Trường Harvard đã đề xuất ra thuyết Trí thông minh đa diện, đồng thời phân loại trí thông minh con người ra thành 8 loại trí thông minh. 

Theo ông, năng lực trí tuệ thiên bẩm của mỗi con người vốn đã bao gồm các loại trí thông minh, chúng phối hợp cùng nhau để nâng cao “tổng lực” sức mạnh trí não lẫn sức mạnh thể chất của mỗi cá nhân. 

Theo đó, Thomas Armstrong cùng nhiều tác giả khác đã nỗ lực nghiên cứu để đưa ra các phương pháp ứng dụng thuyết Trí thông minh đa diện vào việc giáo dục ở nhà trường, cũng như hướng dẫn cha mẹ cách hỗ trợ trẻ phát huy hết tiềm năng trí não mà tạo hóa đã ban tặng cho mỗi trẻ. 

3. Giáo dục sớm cho trẻ em những năm đầu đời 

3.1 Giáo dục sớm cho trẻ em những năm đầu đời trong xã hội hiện đại

Áp dụng thành quả công trình nghiên cứu về bộ não của con người: từ khi còn trong bào thai đã có thể tiếp nhận nền văn minh nhân loại và phát triển tiềm năng của con người một cách tự nhiên qua tác động của giáo dục sớm về thể chất, ngôn ngữ, nhận thức, âm nhạc, hội họa, toán học.

Từ những kết quả nghiên cứu về bộ não kì diệu của trẻ sơ sinh và lứa tuổi mầm non, trên thế giới đã xuất hiện những nghiên cứu áp dụng các phát hiện mới về bộ não để phát minh ra những công nghệ giáo dục nhằm kích hoạt tiềm năng của não bộ từ những năm đầu tiên của cuộc đời. Đã có những công trình nghiên cứu nổi tiếng về giáo dục đào tạo trẻ thông minh sớm, về giáo dục não phải, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước; trong đó phải kể đến những người đi tiên phong trong cuộc cách mạng giáo dục sớm với những tên tuổi nổi tiếng xuất thân từ các nước Mĩ, Nhật Bản, và Trung Quốc. 

  1. 3.2 Giáo dục sớm tại Việt Nam   

Cả nước tính đến nay mới chỉ có một số tổ chức phi chính phủ và trường mầm non tư thục quan tâm đến giáo dục sớm với việc nghiên cứu thực hành chương trình giáo dục sớm dựa trên các phương pháp giáo dục của Shichida Makoto (Nhật Bản); của Robert C. Titzer, Rudolf Steiner, Glenn Doman (Hoa Kỳ); Reggio Emilia (Italia); Phương án 0 tuổi của GS. Phùng Đức Toàn (Trung Quốc);… bước đầu đã đạt được một số kết quả khích lệ trên trẻ từ 0 đến 3 tuổi. Một số gia đình và chị em phụ nữ mang thai đã quan tâm tìm hiểu về thai giáo và giáo dục sớm ở gia đình với sự tiếp cận của tài liệu nước ngoài. 

Từ năm 2011, Hội Giáo dục chăm sóc sức khỏe cộng đồng Việt Nam đã thành lập Viện Nghiên cứu giáo dục phát triển tiềm năng con người (IPD) để triển khai nghiên cứu các phương pháp giáo dục sớm và thí điểm xây dựng các mô hình giáo dục sớm linh hoạt và phù hợp với điều kiện của Việt Nam nhằm góp phần khai mở tiềm năng thể lực và trí lực của trẻ em trong độ tuổi mầm non. 

4. Giáo dục sớm với chương trình giáo dục mầm non sau 2020

4.1 Triết lý và mục tiêu giáo dục

Triết lý giáo dục: 

  • Giáo dục trái tim, giáo dục nhân cách.
  • Chấp nhận sự khác biệt.
  • Phát triển tiềm năng.
  • Tạo sự đam mê học tập và khám phá.
  • Cha mẹ luôn đồng hành.

Mục tiêu:

Phát triển tiềm năng to lớn bẩm sinh của trẻ từ sơ sinh, thúc đẩy phát triển một cách toàn diện, đầy đủ, có cá tính, có sở trường, nâng cao những tố chất cơ bản để trẻ trở nên khỏe mạnh, có trí tuệ, tính cách hài hòa. Chuẩn bị những nền tảng vững chắc để trẻ có thể học tập, sáng tạo suốt đời và trở thành những công dân có những phẩm chất toàn cầu.

Trường mầm non có sứ mệnh mang đến:

  • Tuổi thơ hạnh phúc cho các em bé.
  • Hạnh phúc cho mỗi giáo viên, nhân viên làm việc tại trường. 
  • Niềm vui, sự tự hào của các bậc cha mẹ. 
  • Trường là một cộng đồng để cùng nhau xây dựng một thế giới trẻ thơ hạnh phúc.

4.2 Nguyên tắc giáo dục 

Các nguyên tắc giáo dục cần bổ sung:

  • Bắt đầu từ 0 tuổi: Giáo dục cần tận dụng được các “giai đoạn nhạy cảm” trong “thời kì vàng”. 
  • Tuân theo quy luật phát triển tự nhiên của não bộ: Biết nắm bắt thời cơ quan trọng đối với sự phát triển của não bộ, tạo cho trẻ môi trường, điều kiện để phát triển trí lực, chú ý kích thích, gợi mở và khai phá những tiềm năng trong trẻ.
  • Kích thích cảm hứng: Cảm hứng là nội lực thúc đẩy đầu tiên khiến trẻ chủ động học tập, được coi là "người thầy tốt nhất" đối với việc học tập của trẻ. Trẻ sẽ từ chối mọi sự giáo dục nếu không khơi dậy được sự hứng thú của trẻ. Trẻ sẽ đóng chặt cánh cửa chú ý, không ghi nhớ, và dừng tư duy tưởng tượng nếu làm cho chúng thấy chán ghét. Ngược lại nếu làm cho trẻ cảm thấy thú vị, mới mẻ, kích thích trí tò mò, trẻ sẽ lĩnh hội mọi thứ không phân biệt khó hay dễ. Làm đúng nguyên tắc này thì trẻ sẽ không cần phải "khổ học" mà vẫn có thể làm được những điều phi thường.
  • Giáo dục theo trình độ, theo cá nhân:Căn cứ vào đặc điểm cá tính của trẻ để có những biện pháp giáo dục khác nhau, tránh áp đặt, đồng loạt.

4.3 Phương châm giáo dục

Phương châm giáo dục cần được chú trọng:

  • Dạy trong cuộc sống, học trong trò chơi: Việc giáo dục sớm cần được tiến hành thông qua các trải nghiệm bằng các giác quan có hệ thống, có mục đích trong các hoạt động hằng ngày và theo cách thức tích cực, vui vẻ, hứng thú nhất.
  • Người dạy có ý thức và người học không ý thức: Người dạy luôn thay đổi cách tiếp cận và hướng dẫn trẻ để mỗi một hoạt động đều là niềm vui thích đối với trẻ.
  • Biến khó thành dễ: Sự vật càng khó thì càng phải học từ sớm, nên cho trẻ tiếp xúc trước những sự vật đó để chúng có được ấn tượng ban đầu và đem lòng yêu thích chúng, ví dụ học bơi, học ngoại ngữ.
  • Coi trọng giáo dục gia đình và giáo dục nhà trường: Giữa trường mầm non và gia đình cần có sự phối hợp để có được một môi trường giáo dục nhất quán cho trẻ.
  • Học bằng chơi, chơi mà học: Trẻ học mà không biết mình đang học. Với trẻ, được học tập là niềm vui sướng.
  • Yêu thương đúng cách: Giáo dục ở trường mầm non cần tránh "chăm sóc hóa", "tiểu học hóa", "vui chơi đơn thuần".
  • Dân chủ bình đẳng, khoan dung và nghiêm khắc: Thường xuyên cổ vũ, khen ngợi, bày tỏ sự tin tưởng và đưa ra những yêu cầu nghiêm khắc; không nên trách mắng, kể tội trẻ một cách tiêu cực, cần luôn tìm cách giúp trẻ có cảm giác mình là một đứa trẻ tốt. 

4.4 Nội dung giáo dục

Giáo dục mầm non chú trọng các mặt sau: 

- Phát triển tình cảm xã hội tích cực và lành mạnh, biết yêu thương chia sẻ.

- Phát triển thể chất khỏe mạnh, dẻo dai.

- Phát triển sự nhạy cảm, sáng tạo, nghệ thuật. 

- Phát triển đồng bộ ngôn ngữ thính giác và ngôn ngữ thị giác. 

- Tiếp xúc với ngoại ngữ thông qua cuộc sống và các trò chơi nhằm kích hoạt sự phát triển vùng ngôn ngữ của não bộ. 

- Khám phá đa giác quan. Thực hành trong cuộc sống. Trải nghiệm qua dự án.





 

 

Tài liệu tham khảo

  1. Luật giáo dục; Nhà xuất bản chính trị quốc gia (có sửa đổi, bổ sung) 2009.
  2. Chiến lược phát triển giáo dục 2011- 2020. Theo Quyết định 711/2012/ QĐ- TTg. 
  3. Đề án “Phát triển Giáo dục mầm non giai đoạn 2018 - 2025” Số: 1677/QĐ-TTg, 03/12/2018. 
  4. Nguyễn Võ Kỳ Anh (chủ biên): Thuyết trí thông minh đa diện và khám phá cách dạy trẻ kiểu mới (bộ 5 cuốn). Viện IPD. NXB Tổng hợp TPHCM, 2015. 
  5. Glenn Doman Institutes for the Achievement of Human Potential. http://www.iahp.org/Research.216.0.html 
  6. Phùng Đức Toàn: Phương án 0 tuổi- Chiếc nôi ươm hạt giống tài năng (dành cho trẻ từ 0-6 tuổi). Thái Hà Books, NXB Lao động-Xã hội, 2010 (sách dịch, tái bản lần 1).
  7. The Shichida Method, www.shichidamethod.com
  8. Shore, R. (1997): Rethinking the Brain: New Insights into Early Development (Tư duy lại về bộ não-hiểu biết mới về sự phát triển sớm). New York, NY: Families and Work Institute, pp. 16-17
  9. Stone, Sandra J: "Brain research and implications for early childhood education" (Nghiên cứu não và ứng dụng trong GDMN). Childhood Education. FindArticles.com. 09 Aug, 2011.

 

 

Tags:
 
  • Chia sẻ qua viber bài: Giáo dục sớm và giáo dục sớm trong chương trình giáo dục mầm non sau năm 2020 - Ths. Bùi Thị Kim Tuyến
  • Chia sẻ qua reddit bài:Giáo dục sớm và giáo dục sớm trong chương trình giáo dục mầm non sau năm 2020 - Ths. Bùi Thị Kim Tuyến

Bài viết liên quan

MẸ BẦU VỚI THAI GIÁO - NHỮNG BÍ MẬT CẦN KHÁM PHÁ

MẸ BẦU VỚI THAI GIÁO - NHỮNG BÍ MẬT CẦN KHÁM PHÁ

Mang thai không chỉ là hành trình diệu kỳ của cơ thể mà còn là quãng thời gian đầy ý nghĩa để nuôi dưỡng và kết nối với thiên thần nhỏ ngay từ trong bụng mẹ. Bạn có biết rằng, ngay cả khi còn trong bụng mẹ, bé đã có khả năng cảm nhận, học hỏi và phát triển? Đây chính là lúc THAI GIÁO phát huy vai trò quan trọng, đặt nền móng vững chắc cho tương lai của con. 

Đặc điểm phát triển não bộ trẻ em và ứng dụng trong giáo dục trẻ từ sớm - TS. NGUYỄN THỊ MAI CHI

Đặc điểm phát triển não bộ trẻ em và ứng dụng trong giáo dục trẻ từ sớm - TS. NGUYỄN THỊ MAI CHI

Những tiến bộ trong nghiên cứu về sinh học, thần kinh và khoa học phát triển trẻ em trên thế giới đã cung cấp những hiểu biết sâu sắc hơn về bộ não trẻ em, về lợi ích của phát triển trí não sớm và có thể giúp cải thiện chính sách và thực tiễn hiện có, cũng như những cách nghĩ mới về giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong Thế kỷ 21. 

Phát triển trẻ thơ toàn diện trong thời đại 4.0 và hội nhập quốc tế - NGND.PGS.TS. Nguyễn Võ Kỳ Anh

Phát triển trẻ thơ toàn diện trong thời đại 4.0 và hội nhập quốc tế - NGND.PGS.TS. Nguyễn Võ Kỳ Anh

Phát triển trẻ thơ toàn diện trong những năm đầu đời quyết định tương lai của mỗi con người và giống nòi của dân tộc. Ở giai đoạn này não bộ của trẻ phát triển rất nhanh và rất mạnh, đồng thời trẻ có khả năng học tập tốt

Tầm quan trọng của giáo dục sớm ngôn ngữ cho trẻ từ sơ sinh đến 36 tháng tuổi - Ths.Nguyễn Thị Nhỏ

Tầm quan trọng của giáo dục sớm ngôn ngữ cho trẻ từ sơ sinh đến 36 tháng tuổi - Ths.Nguyễn Thị Nhỏ

Trẻ sơ sinh – 36 tháng tuổi là giai đoạn vàng của sự phát triển ngôn ngữ, là cơ hội của mọi cơ hội, là thời kỳ mẫn cảm nhất đối với ngôn ngữ, các nhà khoa học gọi giai đoạn này là điểm sáng trong phát triển ngôn ngữ của trẻ. Đây là giai đoạn trẻ  học mọi thứ tốt nhất, dù người lớn có dạy chúng hay không.