Xin chào ! Trường chúng tôi đã có mặt hơn 10 năm trên thị trường. TẬN TÂM - UY TÍN
Menu
Close
Loading...
Tìm kiếm

Đặc điểm phát triển não bộ trẻ em và ứng dụng trong giáo dục trẻ từ sớm - TS. NGUYỄN THỊ MAI CHI

I. Các đặc điểm phát triển của bộ não trẻ em

1/ Các kinh nghiệm trong những năm đầu đời định hình cấu ​​trúc bộ não: Đó là quá trình sản sinh ra các kết nối thần kinh và tiếp đến là hiện tượng cắt tỉa

Sự bùng nổ tế bào thần kinh và sự cắt tỉa là hiện tượng bình thường trong quá trình phát triển của bộ não trẻ em, trong đó các kết nối không được sử dụng sẽ bị lược bỏ. Não của trẻ trải qua giai đoạn sàng lọc theo quy luật tự nhiên để hoàn thiện và hoạt động hiệu quả hơn.

Mỗi tế bào thần kinh phản ứng với kích thích bằng cách phát triển một mạng lưới các nhánh dạng như cành cây và các khớp thần kinh kết nối giữa nó và các tế bào xung quanh. Mỗi tế bào thần kinh trung bình có khoảng 15.000 khớp thần kinh. Các mạch nhánh thần kinh trở nên phức tạp hơn theo thời gian, với các tầng bậc thứ ba và thứ tư xuất hiện vào lúc trẻ được 6 tháng tuổi. Sự kích thích mà não bộ nhận được càng phức tạp thì các mạng nhánh thần kinh kết nối càng trở nên dày đặc và tinh vi hơn.

   Hình ảnh tế bào thần kinh chưa trưởng thành (hình nhỏ) và trưởng thành.

Các kiến trúc cơ bản của não bộ trẻ em được xây dựng qua một quá trình liên tục từ trước khi sinh và tiếp tục đến tuổi trưởng thành. Các kết nối thần kinh và các kỹ năng đơn giản hơn hình thành đầu tiên, tiếp theo là các mạch và kỹ năng phức tạp hơn. Trong vài năm đầu đời, hơn 1 triệu kết nối thần kinh mới hình thành mỗi giây * (Cập nhật bởi Trung tâm nghiên cứu Phát triển trẻ em thuộc Đại học Harvard – Mỹ, tháng 4/2017). Sau giai đoạn tăng sinh nhanh chóng này, các kết nối bị giảm qua một quá trình gọi là cắt tỉa, cho phép các mạch não hoạt động hiệu quả hơn.

Những kinh nghiệm ban đầu ảnh hưởng đến chất lượng kiến ​​trúc của não bộ bằng cách xác định các mạch nào được tăng cường và bị cắt tỉa đi do ít sử dụng. Điều này có nghĩa là "sử dụng nó hay đánh mất nó!".Người ta cũng thấy rằng tiềm năng của não bộ sẽ theo quy luật giảm dần, do vậy nếu trẻ nhỏ không được tạo điều kiện học hỏi, kích thích phát triển sớm thì tiềm năng sẵn có của não bộ được phát huy càng ít. 

Khi sinh ra, não của trẻ đã có tất cả các nơron thần kinh mà nó cần có. Kích thước não tăng gấp đôi trong năm đầu tiên, và đến ba tuổi đã đạt đến 80 phần trăm khối lượng não lúc trưởng thành. Quan trọng hơn là các khớp thần kinh được hình thành với tốc độ nhanh hơn bất kỳ thời điểm nào khác, và ở tuổi lên ba, não của trẻ có các khớp thần kinh nhiều gấp hai lần so với ở tuổi trưởng thành.

Hình ảnh mật độ các Xi-náp ở các độ tuổi: sơ sinh, 1 tháng, 9 tháng, 2 tuổi, người trưởng thành

Nguồn: Adapted from Corel, JL. The postnatal development of the human cerebral cortex. Cambridge, MA: Harvard University Press; 1975. 

Khi được sử dụng hay kích thích hoạt động, các tế bào não sẽ tăng cường kết nối với nhau qua các khớp thần kinh. Trải nghiệm càng phong phú, phức tạp thì càng sản sinh ra nhiểu kết nối thần kinh, do vậy thông tin di chuyển trong các vùng não với tốc độ càng nhanh. Vì vậy, cách tốt nhất để bộ não của trẻ được phát triển mạnh mẽ và toàn diện hơn chính là tạo cơ hội cho trẻ được trải nghiệm, được tiếp cận với nhiều lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống.

Quá trình cắt tỉa là thể hiện của tính mềm dẻo cao của bộ não trẻ, mà thực tế được minh họa bởi khả năng thích ứng trong các môi trường mà trẻ được nuôi dạy. Các thử nghiệm khoa học đã dẫn đến lý thuyết về "các thời kỳ quan trọng"– tức là khoảng thời gian xác định trong đó sự kích thích phải xuất hiện, nếu không thì cơ hội để phát triển bình thường sẽ bị mất. Ví dụ: Trong một thí nghiệm cổ điển, mèo con bị bịt mắt trong một số tháng sau khi sinh đã không thể nhìn thấy rõ ngay sau khi miếng bịt mắt được gỡ bỏ. Bộ não của nó đã không có cơ hội để phát triển các con đường thần kinh cần thiết để xử lý thông tin hình ảnh. Tương tự như vậy, trẻ sơ sinh bị đục thủy tinh thể phải được chữa khỏi trong vòng vài tháng đầu tiên của cuộc sống nếu không thị lực sẽ bị hỏng vĩnh viễn. Trong một nghiên cứu khác, chuột con được đặt vào một trong hai môi trường, một môi trường được "làm giàu" chứa đầy đồ chơi và những chướng ngại vật, và một môi trường "nghèo nàn" không có gì. Sau 80 ngày, những con chuột đã được kích thích thì có bộ não với vỏ não nặng hơn (một phần của não bộ điều khiển trí nhớ và nhận thức), các tế bào thần kinh lớn hơn, và mạng lưới đuôi gai phức tạp hơn. Như vậy người ta thấy không có gì tai hại cho sự phát triển não bộ hơn là sự thiếu hụt kích thích. Đồng thời, sự dư thừa các kích thích thích hợp sẽ sản sinh các mạch thần kinh tốt hơn mức trung bình.

Cùng một nguyên tắc như vậy áp dụng đối với sự phát triển não bộ của người. Các nhà khoa học đã phát hiện ra một số khu vực của não bộ lớn hơn và phát triển hơn ở trẻ em chơi nhạc cụ so với những trẻ không chơi nhạc cụ. Chúng bao gồm tiểu não, nơi xử lý nhịp điệu và thời gian, và thể chai, nơi có tác dụng như ống dẫn để liên lạc giữa các bán cầu não trái và não phải - quan trọng đối với các nhạc sĩ phối hợp tay phải và tay trái của họ.

Sự phát triển của não trẻ em chịu ảnh hưởng bởi sự tương tác của các yếu tố di truyền và môi trường. Kinh nghiệm của một đứa trẻ không chỉ xác định những thông tin nào đi vào não của nó, mà còn ảnh hưởng đến bộ não của trẻ xử lý thông tin như thế nào. Môi trường sống được xem là yếu tố quan trọng giúp trẻ phát triển tốt những kỹ năng đầu đời; trong đó giao tiếp xã hội đóng vai trò quan trọng giúp trẻ phát triển cảm xúc và ngôn ngữ. Do vậy cách tiếp xúc trực tiếp giữa mẹ cha với con cái sẽ mang lại hiệu quả cao, đúng với quy luật tự nhiên. 

2/ Bộ não đựơc xây dựng từ dưới lên: Các kĩ năng sinh ra các kĩ năng 

Não bộ của trẻ được xây dựng theo kiểu tầng bậc, bắt đầu với các mạch đơn giản và sau đó tiến đến các mạch phức tạp hơn. Các con đường cảm giác về thị giác và thính giác cơ bản phát triển đầu tiên, tiếp theo là các kỹ năng ngôn ngữ sớm và các chức năng nhận thức bậc cao hơn. Các kết nối sinh sôi nảy nở và cắt tỉa theo một thứ tự quy ​​định được xác định về mặt di truyền, nhưng những trải nghiệm hàng ngày trong cuộc sống sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển mạnh hay yếu của các mạch thần kinh. Não bộ không bao giờ là một phiến đá trắng - tất cả các năng lực mới được xây dựng dựa trên năng lực có từ trước (sơ đồ các mạch kết nối thần kinh). 

 

Nguồn: C.A. Nelson (2000). Credit: Center on the Developing Child

Những năm đầu đời là giai đoạn hoạt động mạnh nhất để thiết lập các kết nối thần kinh, và các kết nối mới có thể hình thành trong suốt cuộc đời để thay thế các kết nối bị cắt tỉa. Đây là một quá trình phát triển liên tục không bao giờ dừng, nên không thể xác định được tỉ lệ phần trăm sự phát triển của não xảy ra ở một độ tuổi nào đó. Điều quan trọng là các kết nối hình thành sớm cung cấp một nền tảng hoặc vững chắc hoặc yếu ớt cho các kết nối hình thành sau này. Hàng tỉ kết nối giữa các tế bào thần kinh trên khắp các vùng chức năng khác nhau của não cho phép thông tin truyền đi nhanh chóng.

Nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Viện nghiên cứu sức khỏe trẻ em Telethon tại Perth (Australia) khẳng định rằng những trẻ sơ sinh được nuôi bằng sữa mẹ ít nhất trong sáu tháng đầu đời, được yêu thương, tương tác qua lại, đáp ứng kịp thời các nhu cầu một cách tích cực…có sự phát triển trí não tốt hơn và khỏe mạnh hơn trẻ được ''nuôi bộ''.Các nhà nghiên cứu cũng khám phá ra rằng, tiểu não - vùng não có liên quan đến việc kiểm soát vận động, có tốc độ phát triển nhanh nhất, gấp đôi kích thước ban đầu sau 90 ngày. Vùng não phát triển chậm nhất đo được là vùng hồi hải mã (hippocampus), một cấu trúc đóng vai trò quan trọng trong quá trình ghi nhớ và hình thành các ký ức. Khác biệt trên phản ánh tầm quan trọng của các kỹ năng phát triển từ thấp lên cao ở não trẻ."Sự di chuyển hợp lý của các neuron trong quá trình phát triển là rất quan trọng đối với việc hoàn thiện của vỏ não và chức năng của nó". Hiện tượng này có thể do sự tác động của ''các nhân tố sinh học tích cực" trong sữa mẹ, chất đã giúp cho các bé biết ''tự điều chỉnh tốt hơn''.

Nghiên cứu cho thấy thùy trán (một phần của bộ não kiểm soát những cảm xúc) tăng cường hoạt động về trao đổi chất từ 6 tháng tuổi. Đến 18 tháng tuổi, các nền tảng thần kinh về trí thông minh cảm xúc của trẻ đã được sắp đặt. Giữa 2 và 4 tháng tuổi, số lượng các khớp thần kinh trong vỏ não vùng thị giác của trẻ tăng lên mười lần, đạt đến 20.000 cho mỗi tế bào thần kinh. Lúc 12 tháng, các tế bào thần kinh phân biệt ngôn ngữ mẹ đẻ đã tìm thấy vị trí cố định của chúng. Lúc 18 tháng, trung tâm ngôn ngữ của não bộ trải qua sự gia tăng số lượng khớp nối thần kinh mạnh mẽ, tạo ra sự bùng nổ về ngôn ngữ của trẻ. 

Trên sơ đồ là các thời điểm phát triển đặc biệt quan trọng, cửa sổ của các cơ hội phát triển của não trẻthể hiện:

• Phát triển vận động: Từ trước khi sinh đến 5 tuổi

• Kiểm soát tình cảm: Từ sơ sinh đến 2 tuổi

• Thị giác: Từ sơ sinh đến 2 tuổi

• Tương tác xã hội: Từ sơ sinh đến 2 tuổi

• Vốn từ: Từ sơ sinh đến 2 tuổi

• Ngôn ngữ thứ hai: Từ sơ sinh đến 6 tuổi

• Logic /Toán: Từ 1 đến 4 tuổi

• Âm nhạc: Từ 3 đến 6 tuổi

Sự phát triển của não trẻ nhỏ có những "giai đoạn nhạy cảm", “cửa sổ của các cơ hội” – đó là do não của trẻ có "tính dẻo" cao nhất (neuroplasticity) nên trong giai đoạn này tốc độ tiếp thu thông tin càng nhanh và lượng thông tin tiếp thu càng nhiều, các mạch thần kinh phát triển nhanh chóng. 

3/ Sự phát triển nhận thức, cảm xúc, và xã hội liên kết chặt chẽ với nhau

Các khả năng nhận thức, tình cảm, và xã hội được hòa quyện vào nhau trong bộ não; cũng như các mặt học tập, hành vi, và cả sức khỏe thể chất và tâm thần cũng liên quan chặt chẽ với nhau trong suốt quá trình cuộc sống. Khi một lĩnh vực nào đó không được chú trọng phát triển sẽ ảnh hưởng đến những lĩnh vực khác. Các chức năng đa dạng của não bộ hoạt động trong một hình thức phối kết hợp phong phú: trạng thái cảm xúc lành mạnh và năng lực xã hội cung cấp một nền tảng vững chắc cho khả năng nhận thức đang phát triển, và chúng cùng nhau là những viên gạch và vữa để xây dựng nền tảng của phát triển con người. Sức khỏe thể chất và tình cảm, các kỹ năng xã hội, và năng lực nhận thức, ngôn ngữ xuất hiện trong những năm đầu đời là các điều kiện tiên quyết quan trọng cho sự thành công ở trường học, công việc và trong đời sống cộng đồng.

Người ta thấy rằng cấu ​​trúc não bộ được định hình trong ba năm đầu tiên sau khi sinh, nhưng cửa sổ cơ hội cho sự phát triển của nó không đóng vào ngày sinh nhật thứ ba của đứa trẻ. Các vùng não dành cho các chức năng bậc cao, liên quan đến hầu hết đến các năng lực xã hội, cảm xúc và nhận thức vẫn tiếp tục phát triển. Vì vậy, mặc dù nguyên tắc cơ bản là “sớm hơn thì tốt hơn” nhưng “cửa sổ cơ hội “cho hầu hết các lĩnh vực phát triển vẫn mở rộng ra ngoài 3 tuổi và đến những năm trưởng thành.

4/ Ảnh hưởng của các stress có hại đến cấu trúc não

Khái niệm stress (căng thẳng) đầu tiên xuất hiện trong sinh học dùng để chỉ phản ứng bình thường của cơ thể đối với bất cứ một tác động có hại nào, sau đó stress bắt đầu được sử dụng để miêu tả các trạng thái của cá nhân đối với các điều kiện bên ngoài ở các mức độ sinh lý, tâm lý, hành vi. Do vậy khái niệm stress không hoàn toàn được hiểu theo nghĩa tiêu cực, mà nó còn có vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của cá thể. Stress là một phản ứng tự vệ của cơ thể trước các nguy cơ. Tuy nhiên khi cơ thể không đáp ứng và thích nghi được trước tác động của các stress thì sẽ gây ra các rối loạn (mà chủ yếu là các rối loạn về mặt tâm lý), ảnh hưởng đến sự phát triển của cá thể.

Ngay cả trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ cũng bị ảnh hưởng bất lợi khi bị căng thẳng đáng kể đe dọa gia đình và môi trường chăm sóc của trẻ. Trẻ nhỏ với đặc điểm cơ thể đang phát triển và trưởng thành về mọi mặt, qua nhiều giai đoạn khác nhau dễ chịu tác động của các stress. Khi các phản ứng stress bị kích hoạt ở mức cao trong một khoảng thời gian đáng kể, mà không có các mối quan hệ hỗ trợ để làm dịu chúng, thì sẽ dẫn đến tác hại làm suy yếu sự phát triển của các kết nối thần kinh, đặc biệt là trong các khu vực của bộ não dành cho các kỹ năng bậc cao. Dưới đây là hình ảnh cấu trúc não bình thường và não bị ảnh hưởng bởi các stress bất lợi. 

Các nghiên cứu cho thấy các stress mãn tính, các stress có cường độ cao liên tục không giảm bớt  trong thời thơ ấu, ví dụ: trẻ bị suy dinh dưỡng kéo dài, sống trong tình trạng nghèo nàn cùng cực,  bị bỏ bê không được chăm sóc, bị xâm hại thân thể, hoặc mẹ bị trầm cảm nặng… có ảnh hưởng xấu đối với não đang phát triển. Hình ảnh cho thấy cấu trúc thưa thớt đứt đoạn kém phát triển của các tế bào thần kinh trong các khu vực vỏ não tiền trán và vùng Hồi hải mã, nơi có vai trò quan trọng nhất cho việc học tập thành công và hành vi ứng xử trong trường học cũng như nơi làm việc.                                          

5/ Khả năng thay đổi kiến trúc bộ não và hành vi giảm theo thời gian

Sự tương tác của các gen và kinh nghiệm tích lũy góp phần cho bộ não phát triển. Mặc dù các gen cung cấp kế hoạch cho việc định hình các mạch não, nhưng các mạch này được tăng cường bằng cách sử dụng lặp đi lặp lại. Yếu tố chính trong quá trình phát triển này là sự tương tác “Serve and Return - Phục vụ và Trả lại” giữa trẻ và cha mẹ hoặc những người chăm sóc khác trong gia đình hoặc cộng đồng đóng góp quan trọng vào kiến trúc bộ não của trẻ. Ví dụ, khi trẻ bập bẹ, biểu lộ ý muốn qua cử chỉ hoặc tiếng khóc, nếu người lớn đáp ứng một cách thích hợp qua tiếp xúc bằng ánh mắt, nụ cười, lời nói yêu thương, tỏ ra hiểu biết nhu cầu của trẻ và sẵn sàng đáp ứng, hoặc ôm ấp vỗ về thì các kết nối thần kinh được xây dựng và tăng sinh trong não của trẻ để hỗ trợ phát triển sự giao tiếp và kỹ năng xã hội. Nếu không có sự chăm sóc nhạy cảm - hoặc nếu sự chăm sóc không đáp ứng, không đáng tin cậy hoặc không phù hợp thì kiến trúc não không hình thành như mong đợi, có thể dẫn đến sự khác biệt trong học tập và hành vi. 

Sơ đồ của P. Levitt (2009) cho thấy tính dễ uốn của não bộ bình thường chịu ảnh hưởng bởi các kinh nghiệm sớm. Trẻ càng nhỏ bộ não càng mềm dẻo dễ uốn. Do đó cung cấp sự chăm sóc và giáo dục sớm thích hợp và có chất lượng sẽ giúp hình thành các mạch não mạnh mẽ dễ dàng và ít tốn kém hơn là để can thiệp hoặc "sửa chữa" chúng sau này. Khi não bộ trưởng thành trở nên chuyên biệt để đảm đương các chức năng phức tạp hơn thì nó ít có khả năng tổ chức lại và thích ứng nhanh. Việc giảm tính mềm dẻo có ý nghĩa là các can thiệp tích cực sớm có ảnh hưởng rõ ràng và hiệu quả hơn đến kiến trúc não đang phát triển của trẻ so với can thiệp muộn sau này. Nói cách khác, chúng ta có thể "trả tiền ngay bây giờ" bằng cách đảm bảo các điều kiện cho sự phát triển trẻ toàn diện của trẻ, hoặc "trả nhiều tiền hơn về sau" vào các dịch vụ khám chữa bệnh tốn kém, các vấn đề về sức khỏe tâm thần, hay tội phạm vị thành niên... 

James J.Heckman, nhà kinh tế học Mỹ đạt giải Nobel năm 2000 nổi tiếng với nghiên cứu thực nghiệm về kinh tế học lao động, đặc biệt là về hiệu quả của các chương trình giáo dục mầm non đã nói “Tỉ lệ lợi nhuận cao nhất trong sự phát triển của trẻ nhỏ đến từ đầu tư càng sớm càng tốt, từ sơ sinh đến năm tuổi, trong các gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Bắt đầu ở tuổi ba hoặc bốn là quá ít và quá muộn…”; “Sự can thiệp sớm cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn được thúc đẩy ở trong trường học sẽ tăng chất lượng của lực lượng lao động, tăng cường hiệu quả của các trường học và có tác dụng giảm tội phạm, giảm tỉ lệ mang thai ở tuổi vị thành niên và sự phụ thuộc vào phúc lợi nhà nước. Những khoản tiết kiệm sẽ tăng lên và hoàn trở lại 60% khi đầu tư cho lĩnh vực giáo dục từ sớm.”

Do vậy có thể nói rằng, những chương trình giáo dục từ sớm có chất lượng cao không chỉ là nguồn tài nguyên có giá trị mà còn là sự đầu tư tài chính khôn ngoan.

 6/ Khung phát triển sinh học - Biodevelopmental Framework

Gần đây, Trung tâm nghiên cứu phát triển trẻ em của Trường đại học Harvard đã đưa ra mô hình “Khung phát triển sinh học - Biodevelopmental Framework” để giúp chúng ta hiểu rõ hơn cơ chế những trải nghiệm sớm của thời kỳ sơ sinh và cả bào thai ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất và tinh thần trong suốt cuộc đời của con người như thế nào.  

Biodevelopmental Framework

Sự phát triển lành mạnh của trẻ em cung cấp một nền tảng vững chắc cho sự phát triển thành những người công dân có trách nhiệm để xây dựng cộng đồng vững mạnh và thịnh vượng. Những tiến bộ đáng kể trong nghiên cứu khoa học thần kinh, sinh học phân tử, gen di truyền, cũng như  khoa học hành vi và xã hội đang làm sâu sắc hơn sự hiểu biết của chúng ta về cách thức phát triển trẻ khỏe mạnh xảy ra như thế nào, làm thế nào để sự phát triển đó đi đúng hướng, làm thế nào để những trải nghiệm sớm tích cực được gắn vào sự phát triển của não bộ và các hệ cơ quan khác và có tác động lâu dài đến sức khỏe thể chất và tinh thần cũng như nhận thức, ngôn ngữ, và các kỹ năng xã hội của trẻ. Bằng cách xác định sớm và có thể kiểm soát được những yếu tố ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến chất lượng cuộc sống, “Khung phát triển sinh học“ này có thể giúp định hướng các mục tiêu cho việc đề xuất các chính sách và dịch vụ cho trẻ em và gia đình hiệu quả hơn. Từ sơ đồ trên cho thấy:

- Những trải nghiệm tích cực đặt nền móng cho sự phát triển lành mạnh, ngược lại những trải nghiệm bất lợi (các stress độc hại) có thể làm suy yếu nền tảng đó. Môi trường với các mối quan hệ lành mạnh trong đó trẻ sống và phát triển bao gồm cả các thành viên trong gia đình và ngoài gia đình và bao gồm sự nuôi dưỡng, chăm sóc, dạy dỗ đáp ứng kịp thời, liên tục và nhất quán; không có sự đối xử bạo hành, thiếu trách nhiệm. Các môi trường vật lí, hóa học, xây dựng trong đó trẻ phát triển cần được bảo vệ từ sự phơi nhiễm các chất độc thần kinh, chẳng hạn như thủy ngân, chì, thuốc trừ sâu; và cần có các biện pháp bảo vệ an toàn chống lại thương tích cho trẻ, chẳng hạn như phương tiện giao thông an toàn, xây dựng khu phố an toàn, trường học an toàn, sân chơi phù hợp, và có các dịch vụ hỗ trợ xã hội. Dinh dưỡng liên quan đến sự sẵn có và khả năng tài chính để có thể mua các thực phẩm có lợi cho sức khỏe; kiến thức hiểu biết của cha mẹ và người nuôi dạy trẻ để lên kế hoạch thực đơn bữa ăn cho trẻ em đảm bảo đủ lượng chất dinh dưỡng cần thiết, và có các biện pháp can thiệp hiệu quả để giải quyết vấn đề calo dư thừa và bệnh béo phì sớm gia tăng hiện nay.

- Những trải nghiệm của trẻ em trong từng lĩnh vực nói trên có liên quan với yếu tố di truyền và nó có thể giúp cơ thể non yếu của trẻ có sự thích nghi sinh lý (phát triển khỏe mạnh) hoặc làm gián đoạn sự phát triển. Nói cách khác, cả yếu tố gen di truyền và những trải nghiệm sớm của đứa trẻ trong năm đầu của cuộc sống có tác động lẫn nhau ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh hay những khuyết tật về sức khỏe thể chất và tâm thần của trẻ ngay từ giai đoạn trước khi sinh. Nghiên cứu cho thấy những kinh nghiệm đầu đời của đứa trẻ có thể để lại “Tín hiệu hóa học - Chemical Signature” trên những gen và quyết định các gen đó được “bật” hoặc “tắt”. Điều này được biết như là "sự thích ứng biểu sinh – epigenetic adaptation", và nó định hướng cho bộ não và cơ thể của trẻ phát triển như thế nào. Quá trình này là cơ chế sinh học qua đó môi trường của các mối quan hệ, vật lý, hóa học, môi trường xây dựng và chế độ dinh dưỡng tạo ra những sự thích nghi sinh lý hoặc những sự gián đoạn mà có thể ảnh hưởng đến cuộc sống con người (cơ chế di truyền biểu sinh, epigenetics). 

- Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tích cực hoặc bất lợi có thể làm suy yếu cấu trúc của bộ não đang phát triển và các hệ thống sinh học khác. Những yếu tố bất lợi có thể xuất hiện ngay từ thời kỳ mẹ mang thai, trong quá trình chuyển dạ, sau khi đứa trẻ lọt lòng mẹ, và trong suốt thời kỳ thơ ấu của con người. Những trải nghiệm sớm đầu đời bất lợi xảy ra trong “thời kỳ nhạy cảm” của bộ não hoặc hệ thống cơ quan khác đang phát triển sẽ có thể gây ra những hậu quả là những khuyết tật về nhận thức và thể chất của trẻ (ví dụ khuyết tật ở sơ sinh liên quan đến nghiện rượu của mẹ khi mang thai); hoặc gây ra những ảnh hưởng tích lũy dần dần làm rối loạn sinh lý bởi những stress lặp đi lặp lại khi trẻ bị lạm dụng, bỏ bê, hoặc bị bạo hành, đặc biệt là khi có thêm những căng thẳng hàng ngày về khó khăn kinh tế của gia đình. Cơ chế sinh học này có liên quan đến hệ thống đáp ứng stress của cơ thể. Tuy nhiên nếu trẻ nhận đươc các mối quan hệ ổn định với người chăm sóc nuôi dạy thì sẽ trẻ có khả năng phục hồi nhanh chóng (Resilience) vượt qua những hoàn cảnh bất lợi có thể làm suy yếu cấu trúc của bộ não đang phát triển và các hệ thống sinh học khác.

- Khi các ảnh hưởng sớm có các hệ thống sinh lý đáp ứng tích cực thì cơ thể sẽ thích nghi và khỏe mạnh. Ngược lại, với các ảnh hưởng bất lợi thì các hệ thống có thể bị rối loạn chức năng, dẫn đến suy giảm khả năng học tập, có những hành vi tiêu cực, bệnh tật, khuyết tật, và tuổi thọ ngắn ngủi. Nói cách khác, trẻ em sống trong môi trường có lợi cho sức khỏe và có các trải nghiệm sớm tích cực sẽ có xu hướng tiếp tục hoàn thành các năm học và có công việc được trả lương cao hơn, sống lối sống lành mạnh, và sống lâu, khỏe mạnh. Ngược lại, trẻ em có những trải nghiệm sớm bất lợi trong cuộc sống không có sự hỗ trợ kịp thời phù hợp từ người chăm sóc sẽ có thể phải bỏ học sớm hơn, thu nhập thấp hơn, phụ thuộc nhiều hơn vào trợ cấp xã hội, có các hành vi không lành mạnh, và có cuộc sống ngắn hơn, ốm yếu.

Như vậy Khung phát triển sinh học làm sáng tỏ tận gốc sự phát triển của thời kỳ mầm non ảnh hưởng đến các kết quả trong học tập, hành vi, và cả sức khỏe thể chất và tinh thần trong cả đời người. Nó góp phần cung cấp những minh chứng để thúc đẩy việc xây dựng các chính sách phối hợp, lồng ghép và các thực hành phù hợp với sự phát triển cho trẻ thơ, và thúc đẩy những sự đầu tư khôn ngoan cho giáo dục bắt đầu từ giáo dục sớm và giáo dục mầm non.

Tóm tắt những điểm cốt lõi về phát triển trẻ:

  1. Kinh nghiệm ban đầu trong cuộc sống xây dựng kiến ​​trúc não bộ, với các mạch đơn giản hình thành đầu tiên và các mạch phức tạp hơn xây dựng trên nền tảng đó.
  2. Trẻ em phát triển trong một môi trường của các mối quan hệ bắt đầu trong gia đình nhưng cũng liên quan đến những người chăm sóc khác. Sự phát triển trẻ được thúc đẩy bởi quá trình tương hỗ “Phục vụ và Trả lại”, trong đó trẻ nhỏ thể hiện nhu cầu tương tác và người lớn đáp ứng lại một cách tích cực, và ngược lại. Phục vụ và Trả lại” hoạt động như một trò chơi tennis hoặc bóng chuyền giữa trẻ em và người chăm sóc có ảnh hưởng lớn đến kiến ​​trúc não. 
  3. Các Gen và môi trường tương tác xác định nên kiến ​​trúc của não bộ. Tuy gen đóng một vai trò to lớn trong sự hình thành tính trạng và mọi hoạt động của sinh vật, nhưng tác động của môi trường bên ngoài và cả những trải nghiệm cũng có vai trò rất quan trọng, thậm chí ảnh hưởng đến kết quả sau cùng của biểu hiện tính trạng. Chẳng hạn, các gen cùng quy định chiều cao của một người, nhưng chế độ dinh dưỡng, luyện tập của người đó cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến sự thay đổi chiều cao.
  4. Năng lực nhận thức, cảm xúc và xã hội không thể tách rời mà chúng đan xen vào nhau, và việc học tập, hành vi, và cả sức khỏe thể chất và tinh thần có liên quan với nhau chặt chẽ trong suốt cuộc đời. 
  5. Căng thẳng gây độc hại ảnh hưởng tiêu cực lâu dài đến học tập, hành vi và sức khỏe thể chất và tinh thần.
  6. Độ dẻo của não và khả năng thay đổi hành vi giảm theo thời gian, do đó, đầu tư sớm sẽ đem lại kết quả tốt hơn và ít tốn kém hơn cho các cá nhân và xã hội, hơn là cố gắng sửa chữa chúng sau này. 

Bài học rút ra từ nghiên cứu sự phát triển não bộ trẻ em: 

  • Sự phát triển trẻ xoay quanh sự tương tác giữa tự nhiên (nature, di truyền) và nuôi dưỡng (nurture, ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài).
  • Giáo dục sớm có tác động lâu dài đến sự phát triển, khả năng học hỏi, và khả năng điều chỉnh cảm xúc tình cảm.
  • Bộ não con người có khả năng thay đổi đáng kể, nhưng tác động đúng thời điểm là rất quan trọng.
  • Có những thời điểm bộ não trẻ đang phát triển bị ảnh hưởng nghiêm trọng và để lại di chứng lâu dài do những tác động tiêu cực có hại, hoặc do thiếu vắng sự kích thích đúng đắn phù hợp.

Có nhiều bằng chứng đáng kể về hiệu quả của can thiệp sớm đối với cá nhân và xã hội. Những nghiên cứu về hiệu quả của các khoản đầu tư vào thời thơ ấu đã minh chứng cho lý do tại sao sự phát triển của trẻ, đặc biệt là từ khi sinh ra đến 5 năm đầu đời là nền tảng cho một xã hội thịnh vượng và bền vững. 

II. Ứng dụng trong chăm sóc, giáo dục sớm trẻ thơ 

Các nguyên tắc cơ bản của khoa học thần kinh chỉ ra rằng can thiệp phòng ngừa sớm sẽ hiệu quả hơn và mang lại kết quả thuận lợi hơn so với việc khắc phục hậu quả sau này trong cuộc sống.

  • Thực hiện cách tiếp cận cân bằng để phát triển cảm xúc, xã hội, nhận thức và ngôn ngữ sẽ đem lại sự chuẩn bị tốt nhất cho tất cả trẻ em để thành công ở trường học và sau này ở nơi làm việc và cuộc sống trong cộng đồng.
  • Các quan hệ hỗ trợ và trải nghiệm học tích cực bắt đầu tại gia đình, nhưng cũng có thể được cung cấp thông qua một loạt các dịch vụ có chất lượng với các yếu tố hiệu quả đã được chứng minh. Bộ não của trẻ sơ sinh cần có các quan hệ ổn định, quan hệ tương tác với người lớn - bất cứ cách nào hoặc bất cứ nơi nào chúng được cung cấp đều có lợi cho sự phát triển trí não khỏe mạnh.

Khoa học chứng minh rõ ràng rằng, trong những tình huống có khả năng gây căng thẳng độc hại, hãy can thiệp sớm nhất khi có thể là rất quan trọng để đạt được kết quả tốt nhất. Đối với trẻ em bị căng thẳng độc hại, cần có các can thiệp sớm chuyên biệt nhằm vào nguyên nhân gây ra căng thẳng và bảo vệ trẻ khỏi các hậu quả.

1) Tại sao học sớm lại quan trọng?

Mặc dù nền tảng của việc học rất sớm xuất hiện từ trong bụng mẹ, nhưng trẻ sơ sinh có hiểu biết và học hỏi nhiều hơn khi bước ra thế giới bên ngoài. Trẻ sinh ra đã bắt đầu quá trình học tập và học mọi thứ khi hòa nhập với thế giới xung quanh.Theo thời gian, cơ thể trẻ dần hoàn thiện và phát triển đầy đủ các khả năng của bản thân. Tuy nhiên, có một điều kinh ngạc là cùng với quá trình ấy, không ít những khả năng kì diệu của trẻ sẽ biến mất… Đây là lí do vì sao cha mẹ tranh thủ giai đoạn sơ sinh của con để cho bé phát triển tối đa những khả năng này. 

Chúng ta có thể nghĩ việc học của trẻ tại thời điểm này là nhỏ bé không đáng kể, nhưng đối với trẻ sơ sinh đó là những bước quan trọng trong quá trình học tập của họ. Ví dụ, khi từ bệnh viện hay nhà hộ sinh về sống ở nhà, trẻ sẽ học về những âm thanh, mùi hương hoa và những thứ mà trẻ nhìn thấy xung quanh. Trẻ sẽ học cách khi ngủ một mình trong chiếc nôi hoặc cũi, cảm giác tấm chăn mềm mại thế nào, tiếng bước chân của mẹ, tiếng ồn xung quanh và cảm giác khi được mẹ ôm ấp cho bú hoặc thay tã... Trong vài tháng đầu tiên, trẻ sơ sinh sẽ quan tâm đến những đồ vật mới đặt gần chúng, vì vậy những đồ chơi chuyển động và an toàn treo trên cũi hoặc cho trẻ chơi đều tốt. Những đồ chơi nhiều màu sắc và thú vị sẽ thu hút sự chú ý của trẻ và trẻ sẽ cẩn thận nghiên cứu nó bằng mắt hoặc lắng nghe những âm thanh phát ra. Những dấu hiệu quan trọng khác của việc học tập cũng diễn ra ở mức độ cảm xúc. Trẻ sẽ học cách mẹ đáp ứng các nhu cầu của mình, được mẹ mỉm cười và học cách cười trở lại, học làm xấu hoặc thè lưỡi ra. Tương tác với con của người mẹ tại thời điểm này thực sự là quan trọng, vì nó không chỉ hỗ trợ quá trình gắn bó mẹ - con, mà đây cũng là cơ hội học của trẻ. Vì vậy cha mẹ hãy làm tất cả những gì có thể cho con của mình, và đặt trẻ ở một vị trí tốt cho việc học tập trong tương lai. 

2) Hướng dẫn chung về chăm sóc bộ não của trẻ nhỏ hàng ngày

Từ các nghiên cứu và những minh chứng khoa học về sự phát triển trí não sớm và sự sẵn sàng của trường học, các nhà giáo dục đã đưa ra những hướng dẫn rộng rãi về chăm sóc trẻ nhỏ:

  • Đảm bảo sức khoẻ, an toàn và dinh dưỡng tốt: quan tâm chăm sóc trẻ từ trước sinh, nuôi con bằng sữa mẹ, đảm bảo trẻ được khám sức khoẻ định kỳ và chủng ngừa kịp thời, đảm bảo an toàn nơi trẻ em chơi, khi cho trẻ ngồi trên các phương tiện giao thông.
  • Phát triển mối quan hệ ấm áp và quan tâm đối với trẻ: luôn chứng tỏ sự quan tâm sâu sắc đến trẻ, thể hiện niềm vui đối với trẻ, giúp trẻ cảm thấy ấm áp và an toàn.
  • Đáp lại các cử chỉ điệu bộ và ý muốn của trẻ: chú ý đến nhịp điệu và tâm trạng, ngay cả trong những ngày đầu tiên và tuần đầu của cuộc đời. Đáp lại trẻ khi chúng buồn cũng như khi trẻ vui vẻ hạnh phúc. Cố gắng hiểu những gì trẻ đang cảm nhận, những gì trẻ muốn nói với bạn (bằng lời nói hoặc hành động), và những gì trẻ đang cố gắng làm. Bế bồng và vuốt ve trẻ; chơi với trẻ theo cách cho phép bạn theo dõi sự dẫn dắt của trẻ. Di chuyển khi trẻ muốn chơi, và dừng khi trẻ đủ kích thích.
  • Nhận ra rằng mỗi đứa trẻ là một cá thể duy nhất. Từ khi sinh ra trẻ em có các tính khí khác nhau, chúng phát triển theo tốc độ riêng, và tốc độ này thay đổi khi trẻ lớn lên. 

3) Một số việc làm cụ thể nuôi dưỡng bộ não của trẻ

  • Chăm sóc bằng tình thương dạt dào: Nếu đứa trẻ được nuôi dưỡng trong môi trường đầy tình yêu thương thì chúng sẽ học được cách yêu. Trẻ em bị bỏ rơi hoặc không được dạy dỗ thì tất cả các vùng của não sẽ không phát triển một cách đầy đủ.
  • Vuốt ve trẻ: Trong các nghiên cứu về trẻ sơ sinh cho thấy rằng trẻ sinh non được massage ba ngày một lần, mỗi lần 15 phút giúp trẻ tăng cân, lanh lợi hơn và ít khóc đi. Những đứa trẻ này rời bệnh viện sớm hơn so với những trẻ không được massage. Vuốt ve âu yếm, bế, ôm chặt trẻ cũng làm cho trẻ em cảm thấy an toàn, hình thành mối quan hệ gắn bó với người chăm sóc và tiếp tục sự phát triển lành mạnh của họ.
  • Chú ý đến tai nghe và ngôn ngữ của trẻ: Sự lặp đi lặp lại sẽ tạo ra các kết nối thần kinh. Nói chuyện với trẻ sẽ giúp trẻ sớm tập nói. Gọi tên những việc bạn đang làm, gọi tên từng đồ vật, chỉ và biểu lộ tình cảm trên khuôn mặt của bạn.Trẻ nhỏ học hai thứ tiếng dễ dàng hơn so với người lớn. Ví dụ: trẻ có bố mẹ nói tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh sẽ tạo ra hai sơ đồ trên não và sử dụng được cả hai ngôn ngữ này vì những vùng ngôn ngữ của não đã được kích thích ngay từ thời thơ ấu. Nhiễm trùng tai ở trẻ nhỏ có thể làm chậm sự phát triển ngôn ngữ vì trẻ không thể nghe rõ tiếng người nói.
  • Quan sát trẻ 2 đến 4 tháng tuổi khi trẻ nhìn thế giới xung quanh: Quan sát khả năng của 2 mắt để đảm bảo trẻ có thể nhìn được màu sắc, khuôn mặt và hình dạng xung quanh trẻ. Thị giác tiếp tục phát triển đến 8 tháng tuổi. 
  • Dạy trẻ mọi lúc mọi nơi, tìm kiếm những khoảng khắc có thể dạy trẻ: Mỗi ngày nên dạy trẻ một điều mới. Khi bạn mặc áo quần cho trẻ, bạn hãy gọi tên các loại áo quần, màu sắc của chúng và đếm. Khi bạn chuẩn bị bữa ăn, hãy cho trẻ chơi với đồ chơi nấu ăn, gọi tên các thực phẩm, màu sắc của chúng và đong đếm. Khi có thể, bạn gọi tên những vật nào giống nhau/khác nhau, vật nào to hơn/nhỏ hơn, thức ăn nóng/ lạnh. Khi bạn cho trẻ ngồi trên xe đi chơi, hãy chỉ cho trẻ thấy những sự vật xung quanh như cây cối, xe đạp, xe máy, ô tô, biển báo, tín hiệu giao thông,… Những điều bạn làm hàng ngày cung cấp các cửa sổ học tập cho trẻ em. 
  • Âm nhạc: Sử dụng âm nhạcgiúp trẻ phát triển tâm hồn và trí tuệ, với trẻ nhỏ là một cách để trao yêu thương và nhận lại tình yêu. Cảm thụ âm nhạc qua nghe âm thanh và các giai điệu có lời, không lời; chơi, hát, vận động sáng tạo theo nhạc … cũng sẽ kích hoạt các kết nối mới trong não. Cho trẻ nghe những âm thanh âm nhạc có tính phức tạp như nhạc Mozart thì sẽ đồng thời phát triển những vùng não liên quan đến logic toán học và không gian. 
  • Vận động: Trẻ em ngay khi sinh ra cần nhiều cơ hội để vận động. Ngoài lợi ích sức khỏe, tăng cường thể lực, chống béo phì; vận động còn hỗ trợ não bộ trẻ hoạt động hiệu quả, tăng liên kết thần kinh, phát triển trí thông minh. Cần cho trẻ tham gia vận động thô, vận động tinh phù hợp với độ tuổi và an toàn ngay khi trẻ chào đời. Ở tuổi mẫu giáo, hãy cho trẻ tham gia các hoạt động như leo trèo, bơi lội, yoga, aerobic, chạy, di chuyển nhanh và chậm, chơi ở các khu vực cứng và mềm, vẽ nặn với các chất liệu khác nhau như đất sét và bột màu.
  • Sờ, cảm nhận, ngửi, nghe và nhìn: Là các loại hoạt động cảm giác có lợi cho sự phát triển của não. 5 giác quan thực thể gồm thính giác, thị giác, xúc giác, vị giác và khứu giác là các cửa số cơ hội giúp trẻ có thể học sớm. Việc kích thích trí thông minh đa giác quan sẽ tạo ra các kết nối mới, kích hoạt sự tương tác giữa các tế bào não đang phát triển nhằm khơi dậy khả năng phát triển trí tuệ của trẻ. Khoảng 95% của tất cả các thông tin được tiếp nhận thông qua nhìn, sờ và nghe (thị giác, xúc giác và thính giác).
  • Đọc sách và đọc to với trẻ hàng ngày: Một trong những điều quan trọng nhất có thể được thực hiện để tăng cường sự phát triển của não là mỗi ngày phải đọc sách to tiếng với trẻ.
  • Phát triển hành vi mong muốn ở trẻ em: Trẻ em sẽ học những hành vi của người lớn xung quanh. Nếu người lớn nói to thì trẻ em có thể nói to, nếu người lớn tiếp xúc nhẹ nhàng âu yếm, trẻ sẽ học cách như vậy. Nếu trẻ thấy người lớn kiên nhẫn tìm kiếm các giải pháp để giải quyết vấn đề, thì trẻ sẽ thấy rằng học tập là một quá trình có nhiều bước do đó cần kiên trì. Như vậy người lớn phải luôn là tấm gương cho trẻ học theo. 
  • Cho con bú mẹ và cung cấp dinh dưỡng hợp lý: Cung cấp nhiều loại thực phẩm bổ dưỡng và thực hiện thực đơn và khẩu phần theo tháp dinh dưỡng phù hợp độ tuổi. Xây dựng chế độ sinh hoạt hàng ngày giúp trẻ cảm thấy an toàn và đi vào nề nếp.

 

Tài liệu tham khảo

Brain Architecture: http://developingchild.harvard.edu/science/key-concepts/brain-architecture/

  • A Decade of Science Informing Policy: The Story of the National Scientific Council on the Developing Child. WWW.DEVELOPINGCHILD.NET
  • The Science of Early Childhood Development and the Working Paper series from the National Scientific Council on the Developing Child. 

www.developingchild.harvard.edu/library/

 

Tags:
 
  • Chia sẻ qua viber bài: Đặc điểm phát triển não bộ trẻ em và ứng dụng trong giáo dục trẻ từ sớm - TS. NGUYỄN THỊ MAI CHI
  • Chia sẻ qua reddit bài:Đặc điểm phát triển não bộ trẻ em và ứng dụng trong giáo dục trẻ từ sớm - TS. NGUYỄN THỊ MAI CHI

Bài viết liên quan

MẸ BẦU VỚI THAI GIÁO - NHỮNG BÍ MẬT CẦN KHÁM PHÁ

MẸ BẦU VỚI THAI GIÁO - NHỮNG BÍ MẬT CẦN KHÁM PHÁ

Mang thai không chỉ là hành trình diệu kỳ của cơ thể mà còn là quãng thời gian đầy ý nghĩa để nuôi dưỡng và kết nối với thiên thần nhỏ ngay từ trong bụng mẹ. Bạn có biết rằng, ngay cả khi còn trong bụng mẹ, bé đã có khả năng cảm nhận, học hỏi và phát triển? Đây chính là lúc THAI GIÁO phát huy vai trò quan trọng, đặt nền móng vững chắc cho tương lai của con. 

Phát triển trẻ thơ toàn diện trong thời đại 4.0 và hội nhập quốc tế - NGND.PGS.TS. Nguyễn Võ Kỳ Anh

Phát triển trẻ thơ toàn diện trong thời đại 4.0 và hội nhập quốc tế - NGND.PGS.TS. Nguyễn Võ Kỳ Anh

Phát triển trẻ thơ toàn diện trong những năm đầu đời quyết định tương lai của mỗi con người và giống nòi của dân tộc. Ở giai đoạn này não bộ của trẻ phát triển rất nhanh và rất mạnh, đồng thời trẻ có khả năng học tập tốt

Tầm quan trọng của giáo dục sớm ngôn ngữ cho trẻ từ sơ sinh đến 36 tháng tuổi - Ths.Nguyễn Thị Nhỏ

Tầm quan trọng của giáo dục sớm ngôn ngữ cho trẻ từ sơ sinh đến 36 tháng tuổi - Ths.Nguyễn Thị Nhỏ

Trẻ sơ sinh – 36 tháng tuổi là giai đoạn vàng của sự phát triển ngôn ngữ, là cơ hội của mọi cơ hội, là thời kỳ mẫn cảm nhất đối với ngôn ngữ, các nhà khoa học gọi giai đoạn này là điểm sáng trong phát triển ngôn ngữ của trẻ. Đây là giai đoạn trẻ  học mọi thứ tốt nhất, dù người lớn có dạy chúng hay không.

Giáo dục sớm và giáo dục sớm trong chương trình giáo dục mầm non sau năm 2020 - Ths. Bùi Thị Kim Tuyến

Giáo dục sớm và giáo dục sớm trong chương trình giáo dục mầm non sau năm 2020 - Ths. Bùi Thị Kim Tuyến

Một thời thơ ấu an toàn và hạnh phúc không chỉ là Quyền của trẻ em, mà nó còn cung cấp các cơ hội cho trẻ để khai mở và phát triển các khả năng của trẻ. Sự phát triển trong những năm đầu đời là giai đoạn phát triển quan trọng nhất của một con người, là nền tảng cho sự phát triển về thể chất lẫn tinh thần, cũng như văn hóa và nhận thức trong tương lai của cả cuộc đời.